Mở rộng diện bao phủ bảo hiểm xã hội- Kinh nghiệm quốc tế và giải pháp cho Việt Nam

  • 08/04/2017
  • 107 lượt xem

Nguy cơ mất cân đối

Phát biểu tại Hội thảo, Bộ trưởng Đào Ngọc Dung cho biết, chính sách BHXH được thực hiện chính thức từ năm 1961 và cho đến trước năm 1995 chỉ áp dụng đối với CNVC nhà nước theo cơ chế bao cấp. Từ năm 1995, BHXH được cải cách theo hướng dần mở rộng đối tượng tham gia trong các doanh nghiệp có sử dụng từ 10 lao động trở lên rồi tiếp tục mở rộng cho các lao động được ký hợp đồng từ 3 tháng trở lên. Từ tháng 1/2018, đối tượng tham gia tiếp tục được mở rộng đến lao động có hợp đồng từ 1 tháng trở lên. Ngoài ra, lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam có cơ hội tham gia BHXH tại Việt Nam

Theo Bộ trưởng Đào Ngọc Dung, chính sách BHXH đã từng bước được hoàn thiện, cho đến nay đã đạt được những kết quả nhất định, đối tượng tham gia và thụ hưởng các chế độ BHXH ngày càng gia tăng. Tính đến hết năm 2016, cả nước có trên 13 triệu người tham gia BHXH, chiếm khoảng 28% lực lượng lao động trong độ tuổi. Hàng năm, có khoảng 4-5 triệu người được hưởng các chế độ BHXH ngắn hạn và khoảng 150 nghìn người hưởng các chế độ BHXH dài hạn. Đến nay, đã có gần 3 triệu người cao tuổi được hưởng lương hưu và BHXH hàng tháng. Nếu tính cả đối tượng hưởng trợ cấp xã hội dành cho người cao tuổi, người khuyết tật, người nghèo, người có công thì có trên 50% người cao tuổi ở Việt Nam được hưởng lương hưu và trợ cấp hàng tháng. 

Bên cạnh những kết quả đã đạt được Bộ trưởng Đào Ngọc Dung cũng thừa nhận, chính sách BHXH cũng đã bộc lộ những hạn chế, bất cập như diện bao phủ BHXH của Việt Nam còn ở mức thấp so với các nước trên thế giới. Nhiều người lao động chưa được tham gia BHXH và được bảo vệ trước những rủi ro trong quá trình làm việc như ốm đau, tai nạn lao động, thất nghiệp... Nhiều người già không có lương hưu, phải tự lo hoặc sống phụ thuộc vào con cái.

Bên cạnh đó theo Bộ trưởng Đào Ngọc Dung, hiện Quỹ bảo hiểm xã hội tiềm ẩn nguy cơ mất cân đối trong dài hạn. Theo tính toán của Tổ chức Lao động quốc tế thì nếu không có những điều chỉnh về chính sách thì quỹ hưu trí và tử tuất ở Việt Nam có thể mất cân đối ở năm 2034. “Chưa kể, hệ thống các chế độ BHXH còn chưa đa dạng và linh hoạt nên thiếu hấp dẫn với người dân. Hồ sơ, thủ tục thực hiện BHXH còn chưa thuận tiện, đôi khi gây khó khăn cho doanh nghiệp và người lao động”, Bộ trưởng Đào Ngọc Dung nêu.

Nhằm khắc phục những hạn chế nói trên, theo Bộ trưởng Đào Ngọc Dung, hiện Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đang được Chính phủ giao chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, các tổ chức quốc tế nghiên cứu, đánh giá và đề xuất các giải pháp cho hệ thống BHXH ở Việt Nam. Theo kế hoạch, đầu năm 2018, Ban Cán sự Đảng Chính phủ sẽ trình Ban Chấp hành Trung ương Đảng Đề án Cải cách chính sách bảo hiểm xã hội.

Giải pháp mở rộng diện bao phủ BHXH

Tại Hội thảo, ông Phạm Trường Giang, Vụ trưởng Vụ Bảo hiểm Xã hội, Bộ LĐ-TBXH cho rằng, mức trần đóng BHXH hiện nay là quá cao, tối đa bằng 20 lần mức lương cơ sở (tương đương 6 lần mức tiền lương trung bình tháng đóng BHXH); mức đóng theo khuyến nghị của Tổ chức Lao động quốc tế chỉ nên ở mức không quá 10 lần mức lương tối thiểu (mức lương cơ sở) như một số quốc gia khác trong khu vực . Ví dụ như Trung Quốc, hiện tiền lương tháng đóng BHXH bằng 3 lần mức tiền lương trung bình tháng đóng BHXH.

“Khoản thu BHXH hôm nay là khoản nợ tiềm ẩn trong tương lai, với sự mất cân đối đóng - hưởng, mức đóng càng cao, gánh nặng Nhà nước phải chịu càng trong tương lai càng lớn. Số liệu thực tế qua nhiều năm đã chứng minh, tỷ lệ mức người đóng- hưởng ngày càng thu hẹp, bởi năm 2000 tỷ lệ là 30 người đóng cho 1 người hưởng, năm 2004, ở mức 19 người đóng cho 1 người hưởng, năm 2014 có 8,7 người đóng cho 1 người hưởng và năm 2020 tỷ lệ này chỉ là 6 người đóng cho 1 người hưởng” - ông Phạm Trường Giang cho biết.

Chưa kể theo ông Giang, việc nghỉ hưu sớm trong điều kiện dân số già hóa với tuổi thọ ngày càng tăng đang và sẽ là một gánh nặng lớn cho quỹ BHXH. Theo đó hiện tuổi hưu trung bình năm là 54,2 tuổi (so với quy định 60 tuổi) và nữ là 52,6 tuổi (so với quy định cũ là 55 tuổi). Tuổi thọ bình quân của người nghỉ hưu (kỳ vọng sống sau tuổi hưu) là 79,5 tuổi, trong đó nam là 79 tuổi, nữ là 80 tuổi. Tính trung bình, thời gian hưởng là 25,3 năm (nam là 24,9 năm; nữ là 27,4 năm); song tiền đóng BHXH chỉ đủ chi trả trong 10 năm. Vậy ai sẽ chịu gánh nặng khi thời gian hưởng trung bình của mỗi người là 25,3 năm?

Trước vấn đề này, ông Giang đưa ra một số giải pháp đề xuất trong thời gian tới như: Giao chỉ tiêu phát triển đối tượng BHXH phù hợp, theo hướng gắn trách nhiệm của địa phương; Tăng cường gắn kết chặt chẽ giữa cơ quan thuế và BHXH; Thực thi chính sách hỗ trợ "có điều kiện" để tạo thói quen tham gia BHXH; Bổ sung thêm chế độ ngắn hạn đối với chính sách BHXH tự nguyện; Gắn việc tham gia BHXH cho người lao động là một trong những điều kiện mà doanh nghiệp tiếp cận các chương trình ưu đãi của Nhà nước; Xây dựng chính sách: Con tham gia BHXH, bố mẹ được hưởng lương hưu xã hội; Đơn giản hóa quy trình thủ tục tham gia và thụ hưởng chính sách; xóa bỏ rào cản về ranh giới hành chính, địa phương trong việc tham gia vào hệ thống BHXH.

Đại diện Tổ chức Lao động quốc tế ILO thì cho rằng có 4 phương án để mở rộng diện bao phủ BHXH. Theo đó, phương án 1 là tăng tuổi nghỉ hưu lên 65 đối với nam và nữ theo lộ trình cứ một năm tăng lên 1 tuổi và bắt đầu thực hiện từ 2018; Phương án 2, tăng tuổi nghỉ hưu và giảm tỷ lệ thay thế (tính bằng tỷ số giữa người thụ hưởng và người tham gia BHXH) bằng cách sử dụng tỷ lệ tích lũy ở mức 1,5% mức đóng BHXH trong vòng 40 năm; Phương án 3 là tăng tuổi nghỉ hưu, giảm tỷ lệ thay thế bằng cách áp dụng tỷ lệ tích lũy ở mức 1% đối với mỗi năm đóng góp, áp dụng cơ chế hưu trí toàn dân ở mức 50% lương tối thiểu khu vực Nhà nước; Phương án 4 là tăng tuổi nghỉ hưu, áp dụng mô hình tài khoản cá nhân tượng trưng trong vòng 40 năm chuyển đổi từ năm 2018.

Nói về chính sách BHXH hiện tại, TS Nguyễn Nguyệt Nga - Chuyên gia cao cấp của Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam có quan điểm: “Với các chính sách hiện tại, hệ thống hưu trí ở Việt Nam là không bền vững và phải cải cách ngay từ bây giờ”. Bà Nga cung cấp một số thông tin về thực hiện BHXH đang được nhiều nước trên thế giới thực hiện. Hiện mức chi BHXH và tỷ lệ tăng hằng năm áp dụng tại Việt Nam vẫn thuộc hàng cao nhất thế giới, nhất là với nữ. Trong khi đó, tỷ lệ tăng trên thế giới là 1,7% và khu vực đông Á - Thái Bình Dương là 1,8%. Nhiều nước tăng tuổi nghỉ hưu do tuổi thọ trung bình tăng và quy định tuổi nghỉ hưu giống nhau cho cả nam và nữ. Cách làm này cũng tạo điều kiện cho nữ được hưởng lương hưu cao.

Theo bà Nga, để mở rộng diện bao phủ BHXH, cần tiến hành theo nguyên lý “hái những quả thấp trước”, nghĩa là tăng tỷ lệ tham gia BHXH trong khu vực chính thức. Bên cạnh đó, hệ thống quản lý hành chính hiện tại đang là một trở ngại. Do đó hệ thống BHXH Việt Nam cần được hiện đại hóa như chuyển toàn bộ hệ thống sang quản lý hồ sơ điện tử, hiện đại hóa các qui trình nghiệp vụ theo hướng lấy khách hàng làm trung tâm; Đặt tỷ lệ lợi nhuận đầu tư quỹ bảo hiểm cao hơn và tin cậy hơn, tăng cường quản trị tài chính quỹ hưu. Ngoài ra, mở rộng các chương trình hưu trí bổ sung thông qua việc mở rộng và tăng mức đóng góp cho các chương trình hưu trí theo nghề và các công cụ tiết kiệm hưu trí tư nhân.

Chỉ ra những lỗ hổng trong hệ thống chính sách BHXH, ông Mai Đức Chính – Phó Chủ tịch Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam cho biết, hiện nay chưa thống kê số liệu chính xác số lao động thực chất thuộc diện đóng BHXH. Thứ hai là mức tiền lương để đóng bảo hiểm, các doanh nghiệp đang xây dựng hai bảng lương, một là bảng lương để quyết toán thuế, hai là bảng lương chỉ cao hơn mức lương tối thiểu một chút để đóng BHXH. Do đó, ông Chính đề nghị thời gian tới phải liên thông giữa cơ quan thuế với cơ quan đóng BHXH.

Theo bà Nguyễn Lan Hương - nguyên Viện trưởng Viện Khoa học - Lao động xã hội cho rằng, cần kết hợp một sàn ASXH tối thiểu, trong sàn đó mức đóng tối thiểu vừa phải để đóng và hưởng vừa phải, và nguyên tắc sàn đầu tiên là đảm bảo những nhu cầu tối thiểu nhất. Sàn đó đảm bảo người dân được hưởng an sinh tối thiểu, nhưng quan trọng là tạo ra sự kết nối giữa đóng và hưởng.

Kết luận Hội thảo, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam đề nghị mặc dù trong khi chưa có những thay đổi căn bản về BHXH nhưng vẫn phải cố gắng mở rộng diện bao phủ trong điều kiện có thể. "Bản chất chế độ chính trị ở Việt Nam từ trước đến nay là lo cho toàn dân, đặc biệt là lo cho đối tượng yếu thế, đối tượng NCC với đất nước. Đó là câu chuyện giữa nhà nước trực tiếp hỗ trợ bằng chính sách, bằng tiền hay là bằng cơ chế" – Phó Thủ tướng nói.

Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam đưa ra 3 lưu ý khi đưa ra các giải pháp nhằm mở rộng diện bao phủ BHXH. Đó là phải đảm bảo quy luật và phù hợp với quy luật chung của thế giới; Thực tiễn Việt Nam sẽ là quốc gia có già hóa dân số nhanh; Đồng bộ với các chính sách về xã hội, từ y tế, giáo dục…Phải thống nhất 3 nguyên tắc này mới giải quyết được vấn đề. Theo Phó Thủ tướng, trên thế giới có nhiều kinh nghiệm, giải pháp khác nhau nhưng không thể "copy" từ nước này cho một nước khác.

Về nhiệm vụ cụ thể, Phó Thủ tướng yêu cầu: Cần phải thống kê chính xác số người trong độ tuổi lao động, hiện nay có một bộ phận người lao động chưa tham gia BHXH (20%), cần có đánh giá, kiểm tra lại; Tiếp tục mở rộng và đổi mới chính sách BH tự nguyện, coi  người tham gia BHXH như khách hàng; Đổi mới công tác quản lý lao động và Quỹ BHXH, ứng dụng tối đa công nghệ thông tin trong quản lý, điều hành; Cần có sự vào cuộc của các tổ chức đoàn thể, chính trị-xã hội để mở rộng đối tượng tham gia BHXH nhằm đảm bảo an sinh xã hội. Đặc biệt là vai trò của địa phương, cần phải giao kế hoạch cụ thể tới từng đối tượng; Nâng cao công tác tuyên truyền để người lao động hiểu được quyền lợi của mình, trở thành “người giám sát trực tiếp”; Từng bước chuyển biến mạnh mẽ về cải cách thủ tục hành chính...